Cảm nghĩ về bài thơ Sau phút chia li

Những bài văn hay lớp 7

Cảm nghĩ về bài thơ Sau phút chia li – Bài làm 1

Cách ta hàng ngàn năm, thi hào Nguyễn Du đã từng đau đớn thốt lên:

Loading...

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

Những khách mà hồng mà phận bạc, ngàn năm còn vọng đến trời xanh câu hỏi thiên cổ, chỉ tiếc rằng không thể hóa giả nổi “kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”. Và vì thế, thơ ca ra đời như là sự giải thoát, sự đồng cảm, là tiếng nói đồng ý đồng chí đồng tình để đi tìm những tâm hồn đồng điệu cùng gặp nỗi gian truân mà cất lên những vần thơ làm buốt lạnh lòng người cho thân phận người phụ nữ bạc mệnh. Và trên hành trình ấy, ta bắt gặp “Sau phút chia li” của Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm.

Thơ là tiếng nói của những cảm cảm xúc mãnh liệt, đi ra từ nỗi cô đơn đến đau thương, tội nghiệp của người chinh phụ có chồng ra trận phải chăng vì thế nên “Sau phút chia ly” trích Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn là khúc ngâm cứa sâu vào lòng người đọc nhiều nỗi niềm xót xa. Không chỉ dừng lại ở việc xót thương, khúc ngâm ấy còn là lời kết án đanh thép chiến tranh phi nghĩa đã làm chia cắt hạnh phúc gia đình của đôi vợ chồng trẻ, hao mòn thanh xuân của người phụ nữ. Đoạn trích này thực sự đã lột tả được tình cảnh thê lương của những cặp vợ chồng trẻ trong năm tháng chiến tranh ác liệt.

Nỗi niềm ấy dâng sóng ngay từ những câu thơ mở đầu:

“Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh”

Không gian đối lập giữa người chinh phu và chinh phụ cõi xa mưa gió tan tác đao binh chưa biết ngày trở về, đầy rấy những hiểm nguy, còn thiếp lại ở nơi khuê phong chật hẹp một mình gặm nhấm nỗi cô đơn. Chàng và thiếp, mỗi người một ngả, mỗi người một nơi. Biện pháp tương phản được tác giả sử dụng một cách khéo léo. Còn gì đáng buồn hơn, đua đớn hơn là tình yêu, là hạnh phúc lứa đôi vừa chớm nở, chờ đợi để vun vén ấp ủ nay đã bị ngăn cách, bị tách rời, chia xa. Người vợ trẻ còn “đoái trông theo” nhưng không gian mênh mông, chỉ thấy cách biệt, không thấy tương phùng. Chữ “đoái” như nặng nề và da diết khi phải chứng kiến cảnh biệt li như vậy. Ở câu thơ cuối, tác giả dùng từ “tuôn” như tạo điểm nhấn cho đoạn trích. Nó vừa diễn tả chiều dài, vừa diễn tả chiều rộng.

Màu xanh của đất trời bao phủ lấy không gian chia ly tan tác này. Màu xanh khiến cho lòng người thêm nặng nề và u sâu hơn. Nếu câu thơ mở đầu là sự dâng sóng, thì đến đây cảm xúc như đã tràn bờ:

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Nghệ thuật đối lập tiếp tục được tác giả sử dụng triệt để: Chốn hàm dương><bến tiêu tương, chàng còn ngoảnh lại><thiếp hãy trông sang. Cùng với biện pháp đảo trật tự cú pháp thì biện pháp tương phản càng gợi nên sự chia li, cách trở đến não nề. Hơn nữa, việc mượn các địa danh phần nào nhắc đến cuộc chiến tranh phi nghĩa đã gây ra bao li tán, loạn lạc. Sự xa xôi cách trở về mặt địa lý đã khiến cho nỗi nhớ cứ chồng chất muôn trùng…hạnh phúc trở nên mong manh và xa xôi quá.

Đặc biệt ở khổ thơ cuối thì nỗi đau càng trở nên quặn thắt và não nề hơn:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chằng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Điệp từ “cùng” cho thấy tâm trạng luyến tiếc, xót xa và sự đấu tranh ghê gớm trong tư tưởng của người chinh phụ, khi càng cố gắng trông lại để níu giữ, để khắc ghi thì người yêu thương càng xa hình khuất bóng. Điệp từ xanh điệp đi điệp lại liên tiếp gợi cảm giác mênh mông, heo hút, rợn ngợp của không gian. Nhà thơ dường như muốn mượn cái trống trải của không gian để nói cái trống vắng của lòng người. Cấp độ của màu xanh tăng tiến dần, giống như nỗi đau xót của người chinh phụ càng thêm da diết quặn thắt. Màu xanh ấy đâu chỉ gợi không gian mà dường như còn ám gợi đến sự chia phôi mãi mãi, giống như mùi doa xuyên thấu trái tim nàng bởi màu xanh vốn là màu của hi vọng nhưng trong câu thơ này nó lại là màu của li biệt, của đau thương, của những chuyện chẳng lành. Câu hỏi tu từ ở cuối đoạn trích như dao cứa “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” Hỏi người nhưng cũng là tự hỏi bản thân mình. Hỏi người có sầu hơn không nhưng câu thơ lại không có ý so sánh ai sầu hơn ai. Dường như nó chỉ muốn nhấn mạnh rằng nỗi sầu thương đã rơi vào bế tắc đến cùng cực mà thôi. Và như thế người chinh phụ đã đến cực điểm của đau đớn, của khắc khoải và sọ hãi. Nỗi sợ cô đơn, sợ chia li, sợ không thể tương phùng. Qua đây nhà thơ như muốn đòi quyền sống hạnh phúc cho người phụ nữ nhằm tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi cuộc sống hôn nhân hạnh phúc gia đình của biết bao cặp vợ chồng trẻ.

Người phụ nữ luôn là tâm điểm của văn chương muôn đời, những đau đớn bất công mà họ phải trải qua đã khơi nguồn cho mạch nguồn nhân đạo của văn học, để từ đó nói lên một cách đầy đủ, sâu sắc nhất số phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Bằn tấm lòng nhân đạo và tài năng nghệ thuật trong việc khắc họa diễn biến tâm lí nhân vật, tác giả của “Sau phút chia li” đã thực sự chinh phục trái tim bạn đọc mà gửi tiếng thơ kêu gói sự tri âm đồng cảm muôn đời cho thân phận người phụ nữ.

Cảm nghĩ về bài thơ Sau phút chia li – Bài làm 2

“Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn là một tác phẩm văn vần vô cùng có ý nghĩa, phản ánh nỗi mất mát, đau khổ của người chinh phụ có chồng ra chiến trận trong bối cảnh rối ren của thời đại nói riêng và nỗi đau thương mất mát của con người thời chiến nói chung. Đoạn trích: “Sau phút chia li” trích trong khúc ngâm diễn tả nỗi nhớ da diết của người chinh phụ sau khi tiễn chồng ra lên đường ra “nơi binh đao loạn lạc”. Đọc đoạn trích, ta xót xa biết bao trước những ám ảnh cảm xúc mà con người phải gánh chịu bởi chiến tranh.

Hai câu đầu đoạn trích như một lời kể của nhân vật về việc tiễn chồng ra chiến trận:

Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn

“Chàng” và “thiếp” rõ ràng là đôi phu thê mặn nồng tình ái nhưng không thể như lẽ thường tình, được bên nhau vui vầy mà mỗi người một nơi. Người chinh phu thì cất bước ra đi đến nơi biên ải xa xôi, ở nơi đó không biết có bao “mưa gió mịt mùng” mà chẳng ai biết sẽ đợi chờ. Còn người chinh phụ thì về nơi xưa chốn cũ, căn buồng của đôi trẻ chờ ngày tái ngộ. Hai từ đối lập “đi”- “về” trong hai câu tạo nên sự ngăn cách, đôi người đôi ngả cho đôi lứa yêu nhau. Mới ở đó mà ta đã thấy thoáng vị chia phôi.
Người chinh phụ giống như phần nào nhận ra sự cách trở giữa đôi bên khi mà:

Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

Sự ngăn trở giữa đôi phu thê đâu phải là một bức tường hay một thôn, một xóm mà xa tận chân trời, xa không đong đếm được, chỉ có thể ước lượng bằng sư hùng vĩ rộng lớn của thiên nhiên bao la. Khi trông theo hướng người chinh phu cất bước, người chinh phụ chỉ có thể thấy mây tuôn, thấy núi trải và hình ảnh mây, núi là sự liên tưởng cho cái xa nghìn trùng, một sự cách trở khó lòng đong đếm.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiều Dương thiếp hãy trông sang
Khói Tiên Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Ở những câu thơ tiếp, những địa danh cụ thể được gọi ra, Hàm Dương là nơi người chinh phu tới và bến Tiêu Dương là quê nhà có người chinh phụ đang mỏi mòn chờ ngóng. Phải chăng sự xa xôi giữa khói Hàm Dương và khói Tiêu Dương, giữa cây Hàm Dương và cây Tiêu Dương là biểu thị cho sự xa cách của chính con người? Họ xa cách là thế nhưng vẫn một lòng hướng về nhau nên “chàng còn ngoảnh lại”, “thiếp hãy trông sang”, họ luôn tìm kiếm cơ hội để tìm thấy hình bóng nhau trong không gian xa cách, dù biết trong vô vọng. Ở tận sâu thẳm đáy lòng của cả hai, ai cũng một niềm khát khao xum vầy để trọn vẹn trong tình yêu đôi lứa. Nhưng hiện thực thì lại nghiệt ngã khi mà cả hai:

Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Vì khoảng cách địa lí đã quá xa để họ có thể tìm thấy nhau, cho dù họ có cùng trông lại, cố tìm kiếm bóng dáng người thương thì cũng chỉ có thể thở dài trong tuyệt vọng bởi chẳng thể thấy nhau. Những gì họ có thể trông thấy trong tầm mắt đó là một màu xanh xanh giăng lấy tầm nhìn của ngàn dâu, một thứ màu xanh đồng sắc độ, vô vị nhưng bao trùm cả một không gian rộng lớn, hạn chế tầm nhìn và khóa kín hi vọng về khoảng cách.

Và vì thế, một câu hỏi tu từ bật lên từ tận đáy lòng:

Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Người chinh phụ này đang tỏ bày nỗi sầu của mình hay đang bày tỏ nỗi lo về tình cảm của người chinh phu? Cho dù hiểu theo cách nào thì câu hỏi vẫn xoáy sâu vào lòng người đọc, toát lên nỗi sầu buồn, lo lắng của người chinh phụ. Đâu còn niềm hân hoan phơi phới mong ngày chồng mình có thể “áo gấm về làng” mà mới đó đã thấy một dạ xót xa.

Có lẽ những điểm chung nhất của nỗi khổ con người mọi thời đại khi có cảnh đao binh đó là chia li. Sự chia li là nguồn cơn của bao nhiêu những nỗi bất hạnh của những kiếp người mà ở đây cụ thể là đối với tình yêu đôi lứa. Đặng Trần Côn đã tinh tế nhìn ra nỗi mất mát lớn lao này và cất lên tiếng nói cảm thông với số phận khổ đau trong cảnh chia li tan tác.

Cảm nghĩ về bài thơ Sau phút chia li
Đánh giá bài viết
Loading...